tao muốn làm người lương thiện
Cuộc đời Chí Phèo là một bi kịch lớn: Bi kịch bị từ chối quyền làm người lương thiện. Như vậy, rõ ràng Chí Phèo không thể tự quyết định đời mình, duy có một lần Chí tự quyết định được. Đó là trường hợp nào? A. Quyết định yêu thị Nở.
Người lao động muốn trở lại làm việc phải đáp ứng đủ các điều kiện - Đã nghỉ việc tối thiểu 06 tháng; - Hoàn thiện các thủ tục nghỉ việc; - Không vi phạm kỷ luật dẫn tới bị sa thải; - Trong thời gian còn làm việc chấp hành tốt Nội quy Công ty, hoàn thành công việc được giao, được bộ phận
2. Gửi những lời tin nhắn hỏi thăm thiện ý. Cách nt để quay lại với người yêu cũ là bạn phải tấn công từ từ. Gửi những lời tin nhắn với nội dung hỏi han sức khỏe, công việc chính là cách đơn giản và ít ngại nhất nếu bạn không muốn trực tiếp để cập đến
Vay Tiền Online Me. Lời tự bạch của người viết Nhân nghe chương trình “Saigon buổi sáng” trên sóng FM có cuộc phỏng vấn về những phạm nhân đã mãn hạn tù, trở lại cuộc sống bình thường. Những lời tâm sự , bộc bạch thống thiết và bi thương của các phạm nhân khiến con tim người nghe nhói đau và xúc động đến rơi nước mắt. Vâng, những giọt nước mắt đồng đó bài viết này hình thành như một chia sẻ...“ Tao muốn làm người lương thiện ! Ai cho tao lương thiện?” Đấy là câu nói của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao , nó khiến cho những ai có lương tri đếu cảm thấy đau lòng, đều phải ưu tư . Những tưởng tâm trạng chua xót , bi thương và bế tắc ấy chỉ có trong truyện Chí Phèo , chỉ có trong thời kỳ trước Cách Mạng Tháng 8-1945, thế mà trong xã hội hiện tại vẫn không có không ít người phải đau đớn thốt lên rằng “Ai cho tôi làm người lương thiện ? ”Vâng , những người ấy là những người đã từng có một quá khứ không mấy tốt đẹp, không được trong sáng , họ đã từng phải ngồi tù, đã từng bị đưa đi cải tạo, đã từng vào trại giáo dưỡng …Nay họ đã mãn hạn tù , đã thi hành xong bản án của mình và được trả tự do. Tuy nhiên, họ gặp phải nhiều điều khó khăn khi muốn làm lại cuộc đời , muốn hòa nhập vào cộng đồng xã hội , muốn sống một cuộc sống bình thường .Người xưa đã nói “Nhân bất thập toàn” . Là con người không ai dám vỗ ngực xưng tên rằng mình là người hoàn thiện, chưa bao giờ gây ra lầm lỗi . Điều quan trọng là ta biết nhìn ra những khuyết điểm , những lỗi lầm của mình để sửa đổi , làm cho hoàn thiện hơn . Chính điều này mới đáng quý , nó cũng thể hiện sức mạnh nội tâm và khả năng làm chủ bản thân của ta , Những ai từng phạm lỗi và biết sửa đổi đều đáng quý , đáng trân trọng .Hơn nữa hầu hết những người đã từng phạm tội , đã từng gây nguy hại cho người khác , gây bất an cho cộng đồng xã hội đếu có hoàn cảnh đặc biệt . Ta nên hiểu và cảm thông với họ , không nên phân biệt đối xử với họ một khi họ đã quay đầu , đã quyết định đoạn tuyệt với quá khứ lầm lỗi và muốn hoàn lương . Chính sự cảm thông đối xử thân thiện và giúp đở của xã hội sẽ giúp họ tự tin hơn trong cuộc sống , giúp họ xây dựng một cuộc sống hiền lương , góp phần hạn chế giảm bớt số lượng những người tái phạm . Mặt khác khi một người phạm tội . có những hành động bất lương , xã hội không thể đổ hết mọi tội lỗi m trách nhiệm lên người đó , mà phải biết rằng cộng đồng xã hội cũng gánh một phần trách nhiệm trong sự phạm tội của họ . Như chúng ta đã biết việc hình thành nhân cách của con người ngoài yếu tố tự giáo dục , tự rèn luyện của bản thân còn có sự tác động từ môi trường gia đình , nhà trường và xã hội . Trong đó gia đình là môi trường có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến nhân cách đạo đức và nếp sống của mỗi người . Vì vậy , các bậc phụ huynh , những người làm công tác giáo dục và mọi người xung quanh đều có phần trách nhiệm trước những việc làm sai trái , những hành động thiếu đạo đức của những phạm nhân .Ngày nay trong xã hội chúng ta đang tồn tại định kiến và phân biệt đối xử rất hà khắc đối với những người đã từng phạm pháp . Phần lớn mọi người vẫn luôn nhìn những người đã từng phạm pháp bằng ánh mắt miệt thị , không muốn cộng tác và tiếp xúc với họ . Và sự phân biệt đối xử ấy không chỉ có trong đời sống hằng ngày mà nó còn được cụ thể hóa bằng văn bản . Hãy nhìn vào những tiêu chí , những yêu cầu đới với các ứng viên hầu hết các nhà tuyển dụng trong nước thì chúng ta sẽ thấy rõ điều này . Trong nhiều tiêu chí yêu cầu tuyển dụng có một mục nêu rất rõ ràng rằng “ Không tuyển dụng nhữngngười có tiền án tiền sự , những người đã từng phạm pháp” . Nếu tất cả các nhà tuyển dụng đều áp dụng những điều này thí chẳng khác gì xã hội chúng ta đang đẩy những người đã từng phạm pháp vào bước đường cùng . Chúng ta thử nghĩ , một người không đủ điều kiện để tự kinh doanh , tự kiếm sống phải đi làm thuê , đi kiếm công ăn việc làm , nhưng họ đến đâu cũng bị xua đuổi bị từ chối thì làm sao họ có thể sống được ? Họ lấy tiền đâu ra để chi trả những sinh hoạt phí thường nhật ? Lấy đâu để chin trả những chi phí lúc ốm đau ? Đây là chưa nói đến việc họ còn phải nuôi gia đình , người thân . Trước sự bức bách đấu tranh để sinh tồn như thế thì không còn cách nào khác buộc họ phải làm những việc phi pháp . Không ai dám khẳng định là tất cả những người đã từng phạm pháp khi đã mãn hạn tù , đã thi hành xong bản án đều biết hoàn lương , biết phục thiện . Hẳn nhiên là có những người “ ngựa quen đường cũ” vẫn tiếp tục phạm pháp không chịu sửa đổi , Nhưng ít ra thì cũng có một số người thực sự tỉnh ngộ , họ thấy được tội lỗi của mình muốn được sống tốt để chuộc lại lỗi lầm , để làm lại cuộc đời . Chính sự vô tâm , thiếu trách nhiệm và thiếu sự cảm thông của cộng đồng xã hội đã khiến cho những biết phục thiện ấy phải ngậm đắng nuốt cay , phải chịu nhiều thiệt thòi . nếu như họ có ý chí phấn đấu và có sức kiên định thì phải chịu bầm dập và khổ đau ê chề mới có thể hòa nhập được vào cộng đồng xã hội , kiếm được công ăn việc làm . Còn những ai thiếu ý chí , thiếu sức kiên định thì rất dễ đi đến con đường phạm pháp . Chừng nào xã hội chúng ta còn có sự khinh miệt và phân biệt đối xử với những người đã từng phạm pháp thì chừng ấy con số những phạm nhân tái phạm vẫn còn gia tăng .Cũng may là ở nước ta vừa mới thành lập một nguồn quỹ từ thiện nhằm hổ trợ vế mặt pháp lý để tạo điều kiện cho những người đã mãn hạn tù trở vế dễ dàng tái hòa nhập với cộng đồng ; đồng thời tư vấn , hướng nghiệp , đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho họ , để họ sớm ổn định cuộc sống gia đình và đóng góp cho xã hội . Quỹ ấy có tên là Quỹ hoàn lương Tp. HCM do hai cựu tử tù trong vụ án Tamexco và Minh Phụng –Epco là Lê Minh Hải và Liên Khui Thìn đồng sáng lập, được Ủy Ban Nhân dân Tp .HCM cho phép thành lập theo quyết định số 3019 / QĐ ngày 08 / 7 /2010 . Chính hai vị này là người trong cuộc nên họ thấu hiểu được sự khó khăn và trở ngại của người đồng cảnh ngộ với mình sau khi mãn hạn tù, vì thế họ đãi hợp với nhau để xây dựng Quỹ hoàn lương . Việc làm của họ vừa thể hiện sự đồng cảm sâu sắc đối với những phạm nhân muốn phục thiện , muốn hoàn lương , vừa gióng lên hồi chuông đánh thức nhân tâm trong cộng đồng xã hội , kêu gọi mọi người cảm thông và tạo điều kiện thuận lợi cho những người đã một thời lầm lỡ có cơ hội làm lại cuộc đời , có cuộc sống tốt đẹp . Chính cái tên “Quỹ hoàn lương” của tổ chức này cũng nói lên tiêu chí hoạt động cũng như mục đích của nó .Mong sao đất nước ta ngày càng có nhiều tổ chức như Quỹ hoàn lương và nhiều người trong xã hội trở thành thành viên của tổ chức ấy , hoặc đóng góp ngân quỹ cho tổ chức ấy hoạt động , để giúp đở những người đã phạm pháp mà biết sửa đổi , biết phấn đấu hoàn thiện bản thân , để cho số lượng những người phạm pháp , những người tái phạm pháp trong xã hội ngày càng giảm dần . Làm được việc này thì cần phải có sự chung tay góp sức của cộng đồng xã hội .
YÊU CẦU Dựa vào hai câu nói cuôì cùng của nhân vật mà tiến hành phân tích rõ và đầy đủ chủ đề của tác phẩm Xã hội thực dân phong kiến đã đẩy một con người vốn hiền lành lương thiện vào con đường tha hóa khiến họ rơi vào cái bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, không có lối thoát khai thác hai ý cơ bản trong hai câu nói "Tao muốn làm người lương thiện" nhưng "không ai cho tao lương thiện, tao không thể là người lương thiện nữa", và chỉ còn một cách là tự kết liễu đời mình bằng một cái chết bất đắc kì tử. Chủ đề mang giá trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo cao cả. BÀI LÀM Đọc Chí Phèo của Nam Cao đọng lại trong tôi là cái kết của câu truyện, một kết cục bi thảm và tất yếu dành cho nhân vật chính, Nhưng đó cũng là một cái kết đầy tính nhân đạo cao cả "Tao muốn làm người lương thiện. - ... - Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa! Biết không! Chỉ có một cách... biết không... Chỉ còn một cách là... cái này! Biết không!..." Tôi nhớ đến một câu nói của Gorki "Con người, tất cả ở trong con người". Cái lớn nhất mà Nam Cao đã làm được với thiên chức một nhà văn là đã phát hiện ra phẩm chất người trong hình hài của một con quỷ làng Vũ Đại. Những lời nói cuối cùng của Chí Phèo đã làm sáng lên, bừng lên ước muốn được làm người, khát vọng được hoàn lương của hắn. Từ cái chết ấy nhà văn muôn gửi đến bạn đọc bức thông điệp màu xanh về tác phẩm của mình rằng con người, đặc biệt là người nông dân trong xã hội cũ, dù bị chà đạp, bị đẩy vào con đường lưu manh, tội lỗi thì ẩn sâu trong tâm hồn họ vẫn ánh lên những tia sáng của bản tính lương thiện, bản chất người. -"Tao muốn làm người lương thiện". Đó là câu nói thành thực nhất, tiếng đầu tiên và cũng là lời cuối cùng trong cuộc đời đã bị tha hóa một cách khủng khiếp của Chí Phèo. Khi hắn say nhất cũng là lúc hắn tỉnh nhất, là lúc còn kịp nhận ra nghĩa lí của cuộc sống chính là ở hai chữ "lương thiện" kia, để rồi điều đó bỗng trở thành khát vọng của hắn sau bao ngày vật vã với rượu và những lời chửi bới "tao muốn", lần đầu tiên cái mong muốn của Chí Phèo không phải là dăm đồng bạc lẻ của cụ Bá, không phải dăm cút rượu hay một ít đồ nhắm, những nhu cầu vật chất mà là một mong muốn có tính trừu tượng, sự lương thiện. Nhận ra điều ấy, Chí Phèo càng ý thức được "Tao không thể là người lương thiện nữa". Dường như đây không còn là lời mà Chí nói với Bá Kiến nữa, đó là lời hắn nói với chính mình. Trước đó hắn không hề biết đến cái gọi là lương thiện, cũng không biết mình đã mất đi những cái cơ bản nhất trong một con người. Giờ đây khi nhận ra thì cũng là lúc hắn mất tất cả. Và cái chết là lối thoát Chí chọn cho mình, để chứng thực cho sự nguyên vẹn của cái gọi là lương thiện. Có lẽ khi hắn nhận ra mình không thể lương thiện được công là lúc hắn hiểu sự lương thiện không thể dung nạp những kẻ như hắn. Những câu nói của Chí Phèo khép lại cuộc đời đen tối của hắn nhưng dội lại những năm tháng hắn đã sống, gợi lại những kí ức đau thương và cả nỗi ngọt ngào mà mới hồm qua, hôm kia thôi hắn còn được hưởng nhưng hôm nay đã tuột khỏi tầm tay. Đó vừa là lời tố cáo xã hội lại vừa như một tiếng nói khẳng định lại bản chất của Chí Phèo trong ý thức rất rõ rệt của hắn. Câu chuyện với bao nhiêu chi tiết, tình huống như gói gọn, đọng lại ở mấy câu nói ấy. Người ta đọc được ở đó những ý định tâm huyết của Nam Cao khi viết Chí Phèo. Dọc theo hành trình cuộc đời Chí Phèo, ta sẽ thấy những lời nói cuối cùng hắn như một sự tổng kết về số phận của mình, một lời trăng trối mang tính triết lí và nhân bản rất cao. Chí cùng từng là một người lương thiện khi hắn còn là một nông dân hiền lành đi ở cho nhà Bá Kiến. Nhưng hắn đã thực sự tha hóa, mất cả nhân hình lẫn nhân tính từ khi đi tù về. Tình yêu với thị Nở chính là một sự thôi thúc, cảm hóa chất lưu manh trong con người hắn. Nhưng tiếc rằng hắn đã lấn sâu trong tội lỗi, cho nên dù có ham muốn được trở lại làm người bình thường thì cũng không được nữa. Ai đó sẽ cho hắn lương thiện? Chí Phèo là một thằng lưu manh cùng hơn cả dân cùng. Có lẽ hắn cũng ý thức được điều ấy trước khi kết liễu đời mình. Thực tế khắc nghiệt đến mức một thằng liều quá nửa đời người như hắn vẫn phải nhận ra. Nam Cao đã đặt Chí Phèo trong một không gian thu nhỏ - làng Vũ Đại - nhưng có sức bao quát lớn xã hội đương thời. Hãy cứ coi Vũ Đại chỉ là một làng xã nhưng chớ coi thường phạm vi của nó. ở đó hội tụ những thủ tục, nề nếp, trật tự và những mối quan hệ. Trên cùng của hệ thông làng xã là cụ Bá Kiến ăn ngôi trên chỉ từng được mệnh danh là "lí trưởng, chánh tổng, bá hộ, chánh hội đồng, kì hào, huyện hào, Bắc Kì nhân dân đại biểu, khét tiếng đến cả trong hàng huyện. Sau cụ Bá là hàng loạt phe cánh cường hào như một bầy cá tranh mồi dồn lại để bóc lột nhân dân nhưng vẫn ngấm ngầm chia rẽ, mưu hại nhau. Trong cái vòng vây ấy, những người dân chứ chưa nói đến Chí Phèo đã khổ cực lắm rồi. Hạng nông dân như Chí là hạng không được chút quyền hạn nào trong làng, không cha mẹ, người thân thích, không mảnh đất cắm dùi, không đồng bạc trong tay thì thử hỏi đâu là quyền sống? Cái cùng cực của Chí Phèo là cùng cực của một kẻ chỉ có thể chấp nhận chứ không có quyền thắc mắc, phản đối, chống lại. Nam Cao đặt biệt chú ý đến cụ tiên chỉ của làng Vũ Đại, điều hành mọi quyền bính trong làng. Dưới ngòi bút của nhà văn, hình ảnh cụ bá hiện lên với những dáng nét sắc thái rất đậm, vừa mang đầy quyền lực mà vẫn không để lộ cái bạo tàn, hách dịch. Cụ bá không có cái thô lỗ, ngu dốt của những tên trọc phú khác ấy là bóc lột người một cách cổ tiền, thô sơ. Cụ có mưu mẹo của cụ, nó hình thành trong lời ăn, tiếng nói rất đỗi khôn ngoan của cụ, những thủ đoạn mà cụ bày ra thường chỉ làm cho con mồi mắc bẫy chứ không bao giờ cụ bể mặt "cụ vẫn tự hào vì cái cười hơn người của mình". Trong cái cười của Bá Kiến ẩn chứa bao nhiêu là xảo quyệt, gian manh, bao nhiêu mưu kế chưa được thực hiện. Hắn đã biến Chí Phèo từ một anh nông dân hiền lành thành một tên tù khổ sai với bộ dạng không còn là người nữa. Hắn đã giam hãm Chí Phèo trong nhà tù của luật pháp, hắn lại còn giam hãm Chí lần thứ hai, lâu dài hơn, trong nhà tù không vách, không xà lim, song sắt, ấy là làng Vũ Đại và sự ghê lạnh của mọi người. Ớ đó Chí Phèo là một tay sai đắc lực cho hắn. Trước Chí Phèo, Bá Kiến đã từng biết cách cai trị "những thằng liều" như Năm Thọ, Binh Thức, hắn có thừa kinh nghiệm để hiểu rằng. "Hãy ngâm ngầm đẩy người ta xuống sống nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn, đập ghế, đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vứt trả lại năm hào vì "thương anh túng quá"!” Những đồng bạc của hắn, những cái cười nhạt mà khanh khách, cái liếc mắt, lời quát mắng dọa nạt cùng những câu dịu giọng chính là cái bẫy để che mắt Chí Phèo, hòng lợi dụng "máu cùn" trong những thằng liều lĩnh "lúc nào cũng có thể cầm dao đâm người hay đâm mình". Sự hiện diện của Bá Kiến càng đậm nét thì cái hệ thông thông trị làng xã Việt Nam càng lộ rõ bàn chất xấu xa, bỉ ổi của nó. Đó là cái chôn mà Chí Phèo không bao giờ có thể tìm thấy cái gọi là luơng thiện. Không ai cho Chí Phèo luơng thiện bởi vì hắn bị những lừa lọc, gian xảo bao vây xung quanh; những trò chém giết rạch mặt ăn vạ, xin đểu, ăn cướp giữa ban ngày vốn không phải là điều lạ lẫm đô! với Chí Phèo. Nhưng có một điều mà Chí Phèo chỉ có thể cảm nhận, chứ không nắm bắt được hình hài một cách cụ thể, đó là sự cô đơn, lạc lõng giữa mọi người. Đã trắng tay, không nơi nương tựa, Chí lại không có lấy một ai để ý. Những người bình thường đều xa lánh hắn. Sự lương thin xa lánh hắn. Không ai nghe hắn chửi, hắn không có ai để mà chửi. Đô! tượng chửi của hắn là tất cả mọi người, thiên nhiên, trời đất, là vô tận mà không là ai cả, là cái gì cụ thể cả. Thậm chí khi "hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại" thì "cả làng ai cũng nghĩ chắc nó trừ mình ra". Càng vì thế tiếng chửi càng trở thành ngôn ngữ riêng để Chí Phèo tự trấn an mình. Nó như một phản ứng quen thuộc giúp Chí quên đi sự xa lánh của mọi người. Hắn chửi để còn cảm giác sẽ có ai đó nghe được lời của mình. Dường như chưa đủ Chí tìm đến rượu. Đô! với hắn ngày tháng, tuổi tác đều không có nghĩa lí gì, cả cuộc đời hắn là một cơn say bất tận, "mênh mông", "hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy hãy còn say, đập đầu, rạch mặt, chửi bới, dọa nạt trong lúc say". Sau những câu văn Nam Cao, ta cảm thây rất rõ bước đi thất thểu, xiêu vẹo, cái giọng lè nhè, cùng cục của một con ma men. Ớ đâu Chí Phèo xuất hiộn là ở đó có tiếng chửi và cơn say rượu. Nếu vũ khí của Bá Kiến là nụ cười Tào Tháo thì vũ khí của Chí Phèo là hai thứ ấy. Hắn say để quên đi sự tồn tại của mình, quên đi quá khứ hiện tại, những vết rạch mặt, những vũng máu, những giọt nước mắt khổ sở của bao người dân vì hắn. Và một điều Chí rất rõ, ấy là khi tỉnh táo "hắn cảm thấy mình trơ trọi". Mâu thuẫn trong con người Chí Phèo chính là mâu thuẫn giữa nỗi sợ sệt cái mình có với sự liều lĩnh. Cho nên càng sợ hắn lại càng muốn quên, muốn sống. Chính bản thân Chí Phèo đã không nhận thức được ý nghĩa của cuộc sống, hắn không tự mình tìm đến, tạo cơ hội cho lòng tốt phát sinh thì làm sao có được sự lương thiện? Cuộc sống chỉ thực sự mỉm cười với Chí khi đời hắn có thị Nở. Sự xuất hiện của thị cùng với tình yêu đã hoàn sinh cho hắn. Hình ảnh của thị Nở như một điểm sáng trong câu truyện một vị cứu tinh trong cuộc đời u ám, triền miên say của Chí Phèo. Mọi mâu thuẫn, xung đột, sự thay đổi lớn của truyện đều xuất phát từ thị Nở. Có thể nói là phương tiện để Nam Cao đưa Chí Phèo trở về khát vọng hoàn lương. Không cần biết đến một thị Nở dở hơi, một người đàn bà xấu như ma chê, quỷ hờn. Có cái mặt là "một sự mỉa mai của hóa công", "bề ngang hơn bề dài", Chí Phèo đã yêu và tình yêu ấy giúp hắn nhận thức rõ hơn về sự tồn tại của mình. Lần đầu tiên trong hắn nảy sinh những cảm xúc, tình cảm của một người bình thường, không say rượu, không chửi bới, hắn "bâng khuâng", "mơ hồ buồn", "nao nao buồn". Thử tưởng tượng xem một con ma rượu mà cho đến lúc này cũng "sợ rượu như những người ôm thường sợ cơm". Tinh yêu khơi dậy trong hắn ý thức về' bản thân, dù chỉ là "mơ hồ" nhưng hắn củng hiểu đó là cái buồn của một con người. Hắn cảm thấy xung quanh đang thay đổi, xôn xao, rạo rực. Một tiếng chim vui vẻ, những tiếng người cười nói, tiếng mõ... đối với hắn như là điều lạ lẫm, hấp dẫn. "Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có". "Chí Phèo chưa bao giờ nhận thấy thế bởi chưa bao giờ hắn hết say". Và lúc này khi có đến 5 ngày không say rượu, hắn lắng nghe thế giới bằng tất cả lòng mình, cảm nhận và tận hưởng như một đứa trẻ mới chập chững biết đi. Thế giới trong mắt hắn là hàng chuỗi những điều kì diệu, mới lạ. Cái ngạc nhiên của Chí lên đến cao độ khi hắn nhận được sự chăm sóc từ Thị Nở bát cháo hành. Hắn ngạc nhiên và "thấy mắt mình ươn ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì. Hắn vẫn phải dọa nạt hay là giật cướp". Bát cháo gợi mở trong hắn những tia sáng về sự tốt đẹp, quan tâm, săn sóc của con người trong cuộc sống. Kẻ cùng đinh, liều lĩnh ấy nhận ra một chân lí giản đơn"Những người suôt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo ăn rất ngon". Cái nhận thức có vẻ ngây ngô và hiển nhiên ấy là đúc rút đầu tiên của Chí Phòo trong quãng đời bị tha hóa. Phải chăng đó chính là tiền đề cho sự trỗi dậy mạnh mẽ khát vọng làm người trong Chí. Càng tiếp xúc với thế giới một cách tỉnh táo, Chí Phèo càng khám phá ra những điều mới mẻ, tô't đẹp, trong hắn càng đậm thêm cái khái niệm về cuộc sống. Chí nhớ lại quãng đời cũ và so sánh giữa ngày đó với bây giờ. "Hắn muôn làm nũng với thị Nở như với mẹ". Rồi "hắn thấy thèm lương thiện". Cao hơn, Chí muôn làm một người để yêu "Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui". Tâm thế của Chí Phèo được nâng dần lên. Cái buồn hòa quyện để nâng niềm vui của Chí lên mỗi lúc một cao hơn. Nhà văn đặc biệt chú ý miêu tả những biến thái, dù là rất nhỏ trong tâm trạng nhân vật. Chỉ một phát hiện của Chí Phèo về bát cháo hành cũng đủ để ta nhận ra ham muôn sống của hắn rồi; nó xóa đi những năm tháng khổ đau cũ trong cuộc đời của hắn, lấp đi cái lưu manh, liều lĩnh hàng ngày và mở ra một hi vọng về một thế giới đổi thay tốt đẹp, thế giới của lương thiện. Và cánh cửa lương thiện dường như đã mỉm cười với hắn. Không ai cho Chí Phèo lương thiện, điều đó không có nghĩa là hắn đã mất đi bản chất lương thiện. Ước mong về một cuộc sống bình dị ngày nào đã trở lại với hắn. Thị Nở đã khơi dậy ước mong ấy giữa một đông hỗn tạp, gai góc và phủ lên tâm hồn Chí một cái nhìn đầy lạc quan. Nhưng sự xuất hiện của thị Nở như một tia sáng lóe lên rồi lại vụt tắt trong cuộc đời Chí Phèo. Người đàn bà ấy giông như một cách thức để Nam Cao soi rọi ánh sáng lương thiện vào tâm hồn Chí, tái hiện lại những phẩm chất người trong hắn để càng nhấn mạnh hơn bi kịch của hắn. Bởi lẽ Chí "không thể làm người lương thiện được nữa rồi". Thị Nở, chỗ dựa cuối cùng của hắn, đã từ bỏ hắn. Hắn thấy mình lâm vào bi kịch của những ngày tháng cũ, những cơn say liên miên, những khung cảnh cướp giật, rạch mặt ăn vạ, những lời chửi bới và nỗi cô đơn đến khủng khiếp. Thị Nở đã không thể cứu vớt hắn, mọi nẻo đường đến với lương thiện đều đóng kín. Thà rằng hắn cứ là một thằng cùng đinh liều lĩnh, tay sai của Bá Kiến, không biết gì về cuộc sống bên ngoài. Thà rằng hắn cứ yên phận mà ngông nghênh giữa làng còn hơn biết đến một tình yêu, một lôi sống mới mà không được tận hưởng. Cho nên Chí Phèo "càng uống lại càng tỉnh ra". Cái tỉnh của hắn là cái tỉnh của một người muôn sống mà bất lực với cuộc sống đó. Nỗi bất hạnh của hắn giờ đây còn nặng hơn gấp trăm lần bất hạnh trước đó hắn từng trải qua. Ai sẽ là người cứu vớt hắn khỏi vực sâu của tội lỗi, làm sao hắn có thể xóa được những vết đâm chém trên mặt hắn? Hắn nhận ra một điều hiển nhiên là mọi người không chấp nhận sự tồn tại của hắn nên sẽ không dung nạp lòng tốt của hắn. Cả làng Vũ Đại chỉ biết đến hắn trong vai trò một con quỷ dừ, liệu có ai tin khi hắn muôn trở thành một người bình thường? Xã hội kia, làng Vu Đại này có dễ dàng dung nạp cho hắn? Trước đây muôn sống được thì phải liều, bây giờ hiền lành chắc chắn không phải là một lôi sống có thể giúp hắn tồn tại. Đó là một quy luật tất yếu. Đây mới chính là hiện thân đầy đủ, cao cả nhất, sâu sắc nhất con người đích thực vẫn tiềm ẩn bấy lâu trong dân trí. Con người ấy biết suy nghĩ, lựa chọn, đặt ra những tình huống có thể xảy đến với mình khi mọi lối thoát đều đã hết. Trở lại với những câu nói ở cuôì truyện của Chí Phèo, ta thấy đó là biểu hiện cao độ của khát vọng được làm người. "Tao muôn làm người lương thiện" là sự trỗi dậy mạnh mẽ, đánh dấu bước nhận thức mới trong con người Chí. Nếu trước đó hắn chỉ lơ mơ hiểu về cái tốt đẹp khi tỉnh rượu, rồi hiểu thế nào là nghĩa lí cuộc sống khi ăn bát cháo hành của thị Nở thì đây là lúc hắn lên tiếng đòi cái quyền được sống cho mình. Chính vì càng ý thức được khát vọng sống cho nên Chí Phèo cũng hiểu ra "Tao không thể làm người lương thiện nữa rồi". Xã hội ấy không có chỗ đứng cho một kẻ muốn hoàn lương như hắn. Hắn đã ở trong vòng vây của lỗi lầm quá lớn, hắn đã bị xô đẩy vào chốn tôi tăm mà ở đó ngay cả sự lương thiện cũng không thể cứu vớt được hắn. Những câu nói tất yếu của Chí Phèo không chỉ là lời khuyến cáo dành cho cụ Bá Kiến, ăn tiên chỉ làng Vũ Đại, mà là lời tô" cáo chung dành cho cái xã hội tàn ác, chà đạp quyền sống của con người. Tiếng nói lương thiện không chỉ là khát vọng riêng của cá nhân Chí Phèo, nó còn là tiếng nói cao cả nhất của những người nông dân từng bị áp bức, tước đoạt mọi quyền làm chủ bản thân. Phải chăng đó cũng là tiếng nói vừa phát hiện lại vừa nâng đỡ chất người trong Chí, trong những kẻ tha hóa muôn hoàn lương. Trong lời nói của Chí Phèo ánh lên chất nhân bản của tác phẩm. Dường như kết cục của cuộc đời Chí chính là một lối thoát mà Nam Cao đã dành cho nhân vật này, để ông nâng vai trò con người trong Chí lên một mức độ cao hơn, con người đích thực. Mọi dụng ý nghệ thuật hầu như đều dồn lại ở cái kết cục đó. Chí Phèo chết bởi vì hắn muốn có được sự lương thiện nhưng xã hội, mọi người không cho hắn cơ hội đó. Chí Phèo chết trong sự nhận thức rất rõ về mình, về sự ghê lạnh của mọi người đối với hắn, về mơ ước tới một cuộc sống đích thực. Cái chết là sự hối cải cuối cùng mà Chí còn có thể làm được trong cuộc đời đầy rẫy tội lỗi của hắn. Chi tiết này vừa bộc lộ được giá trị hiện thực lại vừa đậm tính nhân bản. Người ta nói trong mỗi truyện ngắn nhà văn đều chọn cho mình một mục tiêu để vươn tới những yếu tố cần thiết để phục cho mục tiêu đó. Sẽ có những đoạn, những chỗ mà ý định, tâm huyết của người cần bút hiện lên rất rõ rệt, có khi thành định nghĩa, quan niệm. Không nêu lên một khái niệm cụ thể về chất nhân bản trong con người, nhưng cái kết của Chí Phèo là một lời khẳng định về khát vọng sống của con người. Mọi chuẩn bị trước đó dường như chỉ để đợi cái giây phút Chí Phèo bật lên tiếng nói căm phẫn, đòi hỏi sự lương thiện. Chủ đề của truyện đến đây được nâng lên thành ý nghĩa nhân đạo cao cả. Chí Phèo đã nói hộ Nam Cao những điều mà nhà văn muốn nói, muốn đem đến cho con người.
Hướng dẫn Chí muốn làm người lương thiện, nhưng tại sao lại đi giết người? “Tao muốn làm người lương thiện!” nhưng “Ai cho tao lương thiện bây giờ?”… Những khẩn cầu da diết của một anh Chí chuyên đi rạch mặt ăn vạ, sống say xỉn suốt ngày cuối cùng cũng làm lòng người vương chút xót thương. Chỉ tiếc rằng, đến lúc nhận ra đâu là cái thiện, cái ác lại chính là lúc Chí kết liễu cuộc đời mình. Kết cục bi thảm của câu chuyện, khiến người đọc tự đặt ra câu hỏi đầy day dứt Chí muốn làm người lương thiện, nhưng tại sao lại đi giết người? Phải chăng nhà văn Nam Cao đã cố tình để “đứa con đẻ” của mình vào hoàn cảnh éo le, để rồi ông phải đau đớn cởi nút thắt ấy bằng chính máu và nước mắt của những người nông dân cùng khổ giống như Chí? Chí là một đứa trẻ mồ côi, không cha không mẹ. Chí chưa một lần được biết đến hơi mẹ. Cả làng Vũ Đại thay nhau nuôi nấng Chí. Cho đến khi làm được việc, Chí đi ở cho nhà Bá Kiến để lấy chỗ nương thân sinh sống qua ngày. Ngỡ rằng, cuộc đời làm nô bộc cứ thế qua đi, nhưng sự đời éo le cùng những tai họa đã ập đến với Chí. Chí bị bà ba – vợ ba của Bá Kiến dụ dỗ, hãm hại đẩy vào tù. Oan ức, cay nghiệt và lòng thù hận đã theo Chí trong suốt những năm tháng dài đày ải trong tù. Khiến Chí từ một chàng thanh niên hiền lành tốt bụng trở thành một con quỷ dữ khi quay lại làng. Giờ đây, trước mắt mọi người là một con quái vật suốt ngày say xỉn, chuyên đi rạch mặt ăn vạ với những trận chửi om sòm, nghiệt ngã. Mãi cho tới khi gặp Thị Nở, dù chỉ là một cuộc tình chóng vánh mỏng manh với người đàn bà dở hơi, xấu xí nhưng chính từ những điều tưởng chừng như buồn cười ấy lại làm nên bước ngoặt lớn cho cuộc đời Chí. Lần đầu tiên Chí tỉnh rượu, lần đầu tiên hắn thấy yêu cuộc sống, yêu những điều giản dị nhất, hắn ý thức về tuổi tác, về sự đời, về những gì sắp diễn ra trước mắt mình. Cái bản chất lương thiện trong Chí đã được đánh thức sau bao ngày bị vùi dập trong men say. Nhưng bất hạnh chưa hết, Thị bỏ rơi Chí giữa lúc tình yêu đang say đắm, nồng nàn. Trong cơn tuyệt vọng, Chí càng thức tỉnh hơn, càng hiểu hơn vì sao mình ra nông nỗi này. Và Chí đã đi đến một quyết định rất táo bạo giết chết Bá Kiến rồi tự tử để làm người lương thiện. Tình cảnh oái oăm, bi thương này khiến người đọc không khỏi xót thương và đưa ra câu hỏi Chí muốn làm người lương thiện nhưng tại sao lại đi giết người? Giết người là tội ác, là hành động của kẻ ác nhân chứ đâu phải của người lương thiện? Lương thiện là cứu người, là yêu thương, là nâng đỡ nhau. Hay tại Chí không hiểu lương thiện là gì? Không phải, Chí là người đã từng trải qua rất nhiều nỗi đau, nỗi đau thiếu vắng mẹ cha, nỗi đau bị oan ức, rồi lại đến nỗi tuyệt vọng khi bị “người yêu” cự tuyệt tình yêu, rõ ràng Chí hiểu hơn ai hết lương thiện là gì. Hơn nữa, vốn dĩ trước đây Chí cũng từng là một con người lương thiện. Nhưng do hoàn cảnh, do cái ác xung quanh Chí quá nhiều, lòng lương thiện của Chí không thể nào chống lại được những kẻ tà ác kia. Giữa một Bá Kiến và bọn cường hào tham lam, giữa những bà vợ dâm ô và độc ác, một mình Chí làm sao chống đỡ được khi bọn họ đã muốn hãm hại Chí. Thực ra, Chí hiểu rất rõ bản chất của Bá Kiến và bè lũ tay sai của hắn là tàn bạo, là bất nhân. Nếu bọn chúng còn sống ngày nào thì Chí không thể được làm người lương thiện ngày ấy. Bởi thủ đoạn của chúng quá thâm độc, Chí không chống cự lại được. Chí muốn làm người tốt, muốn có một cuộc sống thật bình yên với vợ với con. Nhưng tiếc rằng ước mơ ấy chỉ vừa mới kịp nảy lên trong đầu đã vội vàng bị dập tắt. Lý do ư? Là do Thị Nở dở hơi? Hay do người bà cô đanh đá của Thị lúc nào cũng kìm kẹp cháu mình nên Thị sợ không dám yêu nữa? Tất cả đều đúng, nhưng đằng sau những lý do ấy còn có một lý do khác mang yếu tố quyết định. Đó chính là vì những tàn ác, những định kiến của xã hội, của chế độ phong kiến bất nhân. Mà trong chế độ ấy, Bá Kiến chính là một trong những kẻ cầm đầu. Bởi thế, Chí đã xác định rất rõ kẻ thù của mình, chính là Bá Kiến chứ không phải người đàn bà đã cự tuyệt, đã hất tay Chí một cách phũ phàng. Chí giết Bá Kiến để làm người lương thiện là hoàn toàn đúng. Mặc dù đó là hành động giết người, nhưng trong cái xã hội ấy, hành động này lại là hành động đáng được nhân dân hưởng ứng. Bởi giết Bá Kiến là giết bọn tàn ác, bất nhân. Bọn chúng không chỉ đàn áp mình Chí mà còn đàn áp tất cả những ai thấp cổ bé họng như Chí. Biết bao nhiêu người nông dân cũng đang phải khổ sở chịu đựng cảnh sống lầm than, oan ức như Chí mà không thể nào lên tiếng được. Bọn chúng còn sống ngày nào, nhân dân còn khổ sở ngày đó. Có lẽ, trong những giây phút tủi hờn, Chí nghĩ rằng mình chẳng còn gì phải đáng tiếc cho cuộc đời này, mẹ không, cha cũng không, rồi đến ngay cả một mảnh tình vắt vai tưởng chừng như hạnh phúc cũng vừa bị vụt tắt ngay trong chốc lát, vậy thì Chí còn sống trên cõi đời này làm gì? Rồi khi Chí già nua, ai sẽ bên cạnh, lúc ốm đau mệt mỏi, chắc chỉ có mình Chí nằm co ro hưu quạnh trong túp lều rách nát. Chí nghĩ về sự cô đơn, nó còn đáng sợ hơn cả bệnh tật. Bởi thế, cái chết lúc này vừa giải thoát Chí khỏi cuộc đời đầy ngang trái, vừa là động lực để Chí cầm giao giết chết kẻ cầm quyền ác độc kia. Chí giết chết Bá Kiến rồi tự tử – hành động giết người nhưng lại được mang tên là lương thiện. Tại sao ư? Bá Kiến chết, nhân dân sẽ bớt khổ dù sau hắn vẫn còn những bè lũ tay say. Nhưng ít nhất cái chết của hắn cũng là một mũi dao chĩa thẳng vào đồng bọn của hắn và cảnh cáo rằng con giun xéo lắm cũng quằn, nhất định sẽ có ngày họ đứng lên để giành lại quyền sống, quyền tự do cho chính mình. Chí chết, nhưng vẫn còn bao nhiêu người dân nữa, họ sẽ cùng nhau đoàn kết hợp sức lại lật đổ chế độ phong kiến bạo tàn thâm độc. Chí giết Bá Kiến không chỉ vì mối thù riêng của bản thân mà vì Chí không muốn ai bị lâm vào hoàn cảnh giống mình nữa. Hơn nữa, Chí hiểu rằng nếu hắn còn sống, thì Chí vẫn sẽ là một kẻ chuyên đi đâm thuê chém mướn, chuyên rạch mặt ăn vạ. Chí không muốn tiếp tục những chuỗi ngày cay đắng, bê tha ấy nữa. Chí muốn kết thúc cuộc đời hắn, và cũng kết thúc cả cuộc đời mình để mọi người không còn phải nghe những tiếng chửi đổng om sòm nữa. Bởi thế, hành động Chí giết Bá Kiến là hoàn toàn đúng, và lúc này tâm trí của Chí cũng hoàn toàn tỉnh táo. Chí không say. Chí làm rất đúng. Nhà văn Nam Cao đã rất thành công khi dẫn dắt và sắp đặt cho các nhân vật của mình vào những tình huống éo le nhưng lại rất hợp tình hợp lý. Chí giết Bá Kiến cũng chính là ý niệm của ông khi ông chứng kiến cảnh dân mình phải chịu áp bức bóc lột nặng nề đến mức đánh mất cả nhân tính tốt đẹp vốn có của bản thân. Dù ông đau xót khi phải để Chí chết nhưng đó lại là một cách rất xứng đáng để Chí không làm nên những cái nhìn ghê tởm cho mọi người nữa. Mặt khác, giết Bá Kiến là để cứu giúp nhân dân, để đánh thức lòng can đảm của dân chúng, thúc giục họ hãy đứng lên tự giải phóng lấy chính mình. Như vậy, hành động Chí giết Bá Kiến là hoàn toàn đúng, đặc biết rất đúng với tâm niệm được làm người lương thiện của Chí. Theo
tao muốn làm người lương thiện